Hầm lò giữ vai trò chủ đạo, nhưng thách thức ngày càng lớn
Khi tài nguyên khai thác ngày càng xuống sâu, điều kiện địa chất phức tạp hơn, đồng thời yêu cầu về an toàn lao động và hiệu quả sản xuất không ngừng được nâng cao, cơ giới hóa, tự động hóa và chuyển đổi số đã trở thành đòi hỏi tất yếu đối với ngành than. Những nội dung được thảo luận tại cuộc làm việc mới đây ở Quảng Ninh cho thấy rõ quyết tâm thúc đẩy quá trình chuyển dịch công nghệ mang tính chiến lược của Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam (TKV) trong giai đoạn tới.

Hoạt động khai thác than hầm lò với hệ thống cơ giới hóa đồng bộ, từng bước ứng dụng điều khiển tự động và giám sát số nhằm nâng cao năng suất, bảo đảm an toàn lao động. Ảnh minh hoạ
Giai đoạn 2020-2025, sản lượng than khai thác toàn Tập đoàn đạt 37-40 triệu tấn/năm. Trong đó, than hầm lò đạt 21-27 triệu tấn, chiếm 60-70% tổng sản lượng. Con số này cho thấy hầm lò tiếp tục khẳng định vai trò chủ lực trong cơ cấu sản xuất.
Tuy nhiên, khai thác xuống sâu đồng nghĩa với áp lực về thông gió, thoát nước, kiểm soát khí mỏ, nguy cơ mất an toàn lao động và chi phí sản xuất tăng cao. Nếu tiếp tục duy trì phương thức khai thác truyền thống, ngành than sẽ đối mặt với giới hạn về năng suất và khó đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững.
Trong 5 năm qua, Tập đoàn đã áp dụng đa dạng công nghệ khai thác như cơ giới hóa đồng bộ, khoan nổ mìn kết hợp chống giữ bằng giá khung, giá xích… Đáng chú ý, sản lượng khai thác bằng công nghệ cơ giới hoá tăng từ 3 triệu tấn năm 2020 lên 4,6 triệu tấn năm 2025, chiếm gần 16% sản lượng hầm lò. Số dây chuyền cơ giới hóa đồng bộ tăng từ 12 lên 14 dây chuyền.
Dù vậy, tỷ trọng này vẫn còn khiêm tốn so với yêu cầu hiện đại hóa sản xuất trong bối cảnh Chiến lược phát triển TKV đến năm 2030, định hướng đến năm 2045 và Đề án chuyển đổi số của Tập đoàn đặt ra mục tiêu cao hơn về năng suất, an toàn và quản trị thông minh.
Tăng tốc cơ giới hóa, hướng tới lò chợ thông minh
Giai đoạn 2026-2030 được xác định là bước chuyển mạnh về công nghệ khai thác lò chợ. Theo định hướng phát triển công nghệ của Tập đoàn, sản lượng khai thác bằng công nghệ cơ giới hóa đồng bộ (hạng nặng, trung và nhẹ) dự kiến tăng từ 4,96 triệu tấn năm 2026 (chiếm 17,3%) lên 11,08 triệu tấn năm 2030 (chiếm 34,4%). Số lượng lò chợ cơ giới hóa đồng bộ tăng từ 22 lên 35 lò chợ.
Đáng chú ý, các lò chợ điều khiển thông minh, tự động hóa sẽ có bước tăng trưởng rõ rệt: từ mức 0 tấn năm 2026 lên 3,95 triệu tấn vào năm 2030, chiếm 12,3% sản lượng hầm lò, với số lò chợ tăng từ 5 lên 15. Song song đó, các lò chợ cơ giới hóa đồng bộ hiện có tiếp tục được duy trì và mở rộng, nâng sản lượng từ 4,96 lên 7,13 triệu tấn.
Tổng thể, sản lượng cơ giới hóa đồng bộ và bán cơ giới hóa dự kiến tăng từ 5,2 triệu tấn năm 2026 lên 12,3 triệu tấn năm 2030, chiếm 18,4-37,5% tổng sản lượng hầm lò. Sản lượng khai thác lò chợ tăng từ 25,4 lên 28,6 triệu tấn, góp phần đưa sản lượng than hầm lò toàn Tập đoàn đạt trên 32 triệu tấn vào năm 2030.
Những con số này cho thấy sự chuyển dịch rõ rệt theo hướng tăng nhanh tỷ trọng cơ giới hóa, đồng thời từng bước hình thành mô hình lò chợ tự động hóa, thông minh hóa. Việc nghiên cứu thí điểm mô hình lò chợ thông minh ở mức độ sơ cấp và trung cấp, kết hợp đầu tư mới đồng bộ và cải tạo dây chuyền hiện có sẽ là cơ sở để đánh giá hiệu quả trước khi nhân rộng.

Tổng giám đốc Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam Vũ Anh Tuấn phát biểu chỉ đạo đẩy mạnh cơ giới hóa, tự động hóa và chuyển đổi số trong sản xuất hầm lò giai đoạn 2026-2030. Ảnh: Truyền thông TKV
Ông Vũ Anh Tuấn - Tổng giám đốc Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam nhấn mạnh, yêu cầu đẩy mạnh cơ giới hóa, tự động hóa và chuyển đổi số trong khai thác, đào lò, an toàn lao động, thông gió, thoát nước, kiểm soát khí mỏ… nhằm tăng năng suất, nâng cao mức độ an toàn, cải thiện điều kiện làm việc và giảm lao động trực tiếp trong môi trường nguy hiểm.
Có thể thấy, trong điều kiện ngành than đang đối mặt với áp lực vừa đảm bảo an ninh năng lượng, vừa nâng cao tiêu chuẩn an toàn và hiệu quả sản xuất, cơ giới hóa và chuyển đổi số không còn là lựa chọn mà là yêu cầu tất yếu. Câu chuyện triển khai công nghệ khai thác lò chợ giai đoạn 2026-2030 là minh chứng cho quyết tâm chuyển đổi mô hình tăng trưởng của ngành theo hướng hiện đại, an toàn và bền vững hơn.
Giai đoạn 2026-2030, sản lượng khai thác bằng công nghệ cơ giới hóa đồng bộ dự kiến tăng từ 4,96 triệu tấn năm 2026 (chiếm 17,3%) lên 11,08 triệu tấn vào năm 2030 (chiếm 34,4%), với số lượng lò chợ tăng từ 22 lên 35 lò. Riêng các lò chợ điều khiển thông minh, tự động hóa sẽ nâng sản lượng từ 0 lên 3,95 triệu tấn, chiếm 12,3% vào năm 2030. Tổng sản lượng cơ giới hóa đồng bộ và bán cơ giới hóa dự kiến đạt 12,3 triệu tấn vào năm 2030, góp phần đưa sản lượng than hầm lò toàn Tập đoàn đạt trên 32 triệu tấn.

