• :
  • :
Trang thông tin điện tử tổng hợp
A- A A+ | Trong Tăng tương phản Giảm tương phản

An ninh năng lượng 2026: Ngành Công Thương hóa giải sức ép tăng trưởng

Sản lượng điện gần gấp đôi sau mười năm, tái tạo vượt mức thế giới. Việt Nam giữ đủ điện cho tăng trưởng mà vẫn phải giữ giá, giữ an sinh.

Việt Nam đã làm được điều nhiều nền kinh tế mới nổi chưa làm được: Mở rộng hệ thống năng lượng với tốc độ cao mà không để thiếu nguồn cho tăng trưởng. Sản lượng điện tăng từ 161,9 TWh năm 2015 lên 310,0 TWh năm 2025, gần gấp đôi sau mười năm (Ember).

Tổng công suất nguồn điện đạt 93.435 MW tại ngày 15/7/2026 (Bộ Công Thương). Cái giá của tốc độ ấy cũng hiện rõ: Gần một nửa năng lượng sơ cấp phải mua từ bên ngoài, trong khi giá năng lượng trong nước không thể chạy theo giá thế giới vì còn gánh trên vai ổn định vĩ mô và đời sống nhân dân.

Năng lượng là nền tảng của chế độ

Hơn một thế kỷ trước, tại Đại hội VIII các Xô-viết toàn Nga, V.I. Lê-nin khẳng định: “Chủ nghĩa cộng sản là Chính quyền xô-viết cộng với điện khí hóa toàn quốc. Nếu không, nước ta sẽ vẫn là một nước tiểu nông”. Luận điểm ấy nhấn mạnh vai trò nền tảng của điện khí hóa trong việc chuyển nền kinh tế tiểu nông lên đại công nghiệp, xây dựng cơ sở vật chất, kỹ thuật cho xã hội mới.

Bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia là nền tảng quan trọng để duy trì ổn định kinh tế vĩ mô, thúc đẩy sản xuất và tăng trưởng kinh tế.

Bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia là nền tảng quan trọng để duy trì ổn định kinh tế vĩ mô, thúc đẩy sản xuất và tăng trưởng kinh tế.

Tư tưởng ấy được Đảng ta kế thừa và nâng lên trong điều kiện mới. Nghị quyết số 70-NQ/TW ngày 20/8/2025 của Bộ Chính trị về bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 xác định: “Bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng quốc gia là nền tảng, là tiền đề quan trọng để phát triển đất nước, là bộ phận quan trọng của an ninh quốc gia. Phát triển năng lượng được ưu tiên cao nhất để đáp ứng yêu cầu tăng trưởng liên tục trên 10% trong giai đoạn tới, thực hiện hai mục tiêu 100 năm của đất nước”.

Nghị quyết cũng đặt yêu cầu năng lượng "phải đi trước một bước, đáp ứng đầy đủ nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh và nâng cao đời sống nhân dân". Đi trước một bước nghĩa là nguồn điện, kho dự trữ, đường ống phải có trước khi nhà máy, khu công nghiệp, đô thị cần tới. Đó là chuẩn đo mọi nỗ lực của ngành năm 2026.

Những nỗ lực vượt chuẩn khu vực

Hệ thống lớn nhanh, đủ điện cho tăng trưởng

Theo dữ liệu tổng hợp từ Ember — tổ chức nghiên cứu năng lượng độc lập, phi lợi nhuận, sản lượng điện bình quân đầu người của Việt Nam tăng từ 1.744 kWh năm 2015 lên 3.051 kWh năm 2025, tương đương gần 75%. Cùng giai đoạn, sản lượng điện toàn cầu chỉ tăng từ 24.002 TWh lên 31.772 TWh, tức khoảng một phần ba, như vậy Việt Nam tăng gần gấp đôi.

Theo báo cáo tại Hội nghị tổng kết công tác năm 2025 của EVN, tỷ lệ tổn thất điện năng đã giảm còn khoảng 6%. Một hệ thống mở rộng nhanh như vậy mà vẫn kéo được tổn thất xuống cho thấy năng lực vận hành của ngành điện đã trưởng thành.

Năng lượng sạch đi nhanh hơn mặt bằng thế giới

Theo dữ liệu cập nhật của Ember, năm 2025, điện từ các nguồn năng lượng tái tạo, bao gồm thủy điện, chiếm khoảng 46% sản lượng điện Việt Nam, cao hơn mức 33,5% của thế giới. Sản lượng điện mặt trời tăng từ mức rất thấp năm 2015 lên khoảng 32,91 tỷ kWh năm 2024, chiếm 10,6% sản lượng điện cả nước.

Cơ cấu sản lượng điện năm 2024.

Cơ cấu sản lượng điện năm 2024.

Hạ tầng khí và lọc dầu thêm trụ đỡ

Kho LNG Thị Vải đi vào vận hành từ tháng 10/2023, đánh dấu bước phát triển mới trong nhập khẩu khí thiên nhiên hóa lỏng của Việt Nam. Kho LNG Cái Mép, công suất 3 triệu tấn/năm, đã hoàn thành, sẵn sàng cấp khí cho sản xuất điện từ tháng 8/2026.

Kho xăng, dầu, khí hóa lỏng của Petrolimex tại khu vực Cái Mép -Thị Vải.

Kho xăng, dầu, khí hóa lỏng của Petrolimex tại khu vực Cái Mép -Thị Vải.

Từ tháng 9/2024, LNG cũng được vận chuyển bằng đường sắt từ Nam ra Bắc, góp phần đa dạng hóa phương thức cung ứng nhiên liệu. Cùng với đó, hai nhà máy lọc dầu Dung Quất và Nghi Sơn, có tổng công suất 15,5 triệu tấn/năm, đáp ứng trên 60% nhu cầu xăng dầu trong nước.

Vị trí quốc tế trên mức trung bình

Theo báo cáo Thúc đẩy chuyển dịch năng lượng hiệu quả 2025 do Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF) công bố ngày 18/6/2025, Việt Nam đứng thứ 49 trong 118 quốc gia được đánh giá về Chỉ số Chuyển dịch năng lượng (ETI), đạt 58,1 điểm, cao hơn mức bình quân toàn cầu 56,9 điểm. Việt Nam xếp trên Thái Lan (51), Indonesia (58), Ấn Độ (71) và Philippines (76).

Công tác điều độ góp phần bảo đảm hệ thống điện vận hành an toàn, ổn định.

Công tác điều độ góp phần bảo đảm hệ thống điện vận hành an toàn, ổn định.

Điểm hiệu quả hoạt động của hệ thống năng lượng đạt 66,6, trong khi mức độ sẵn sàng chuyển dịch đạt 45,2. Khoảng cách này gợi mở yêu cầu tiếp tục củng cố các điều kiện cho chuyển dịch dài hạn, từ thể chế, tài chính đến hạ tầng, nhân lực và năng lực đổi mới sáng tạo.

Ba sức ép đặt ra bài toán đặc thù

Những thách thức phải nhìn thẳng

Thứ nhất, dự trữ chiến lược còn mỏng. Theo Bộ Công Thương, năng lực dự trữ dầu thô và xăng dầu của Việt Nam tương đương khoảng 47-50 ngày nhập khẩu ròng, trong đó dự trữ quốc gia chỉ đáp ứng khoảng 6 ngày. Việt Nam cũng chưa hình thành hệ thống dự trữ quốc gia riêng cho dầu thô. Trong khi đó, Nghị quyết 70 đặt mục tiêu nâng dự trữ xăng dầu lên khoảng 90 ngày nhập khẩu ròng, tương đương mức dự trữ tối thiểu áp dụng với các nước thành viên Cơ quan Năng lượng Quốc tế (IEA).

Thứ hai, tiến độ các dự án trọng điểm còn nhiều vướng mắc. Với các dự án điện khí, tiến độ phát triển nguồn điện gắn chặt với tiến độ khai thác và cung cấp nhiên liệu. Các nhà máy điện Miền Trung I, II và Dung Quất I, II, III thuộc chuỗi khí - điện Cá Voi Xanh, đòi hỏi sự đồng bộ giữa khai thác khí, hạ tầng vận chuyển và xây dựng nhà máy điện. Vì vậy, tháo gỡ vướng mắc cần được thực hiện trên toàn chuỗi để bảo đảm nguồn khí và nguồn điện cùng đáp ứng tiến độ.

Bồn chứa nhiên liệu, xăng dầu tại Lọc hóa dầu Nghi Sơn.

Bồn chứa nhiên liệu, xăng dầu tại Lọc hóa dầu Nghi Sơn.

Thứ ba, nhiệt điện than vẫn giữ vai trò chủ lực. Theo EVN, trong 9 tháng năm 2026, nhiệt điện than cung cấp 132,63 tỷ kWh, chiếm 49,9% tổng điện sản xuất và nhập khẩu toàn hệ thống. Tỷ trọng này cho thấy quá trình chuyển dịch năng lượng vẫn phải đồng thời giải quyết yêu cầu bảo đảm nguồn điện ổn định và từng bước giảm phụ thuộc vào nhiên liệu hóa thạch.

Nguồn điện, lưới điện và thị trường chưa phát triển đồng bộ. Nghị quyết 70-NQ/TW chỉ rõ hệ thống điện chưa đồng bộ, thông minh; lưới điện chưa kết nối hiệu quả với các dự án nguồn, trong khi thị trường điện còn nhiều hạn chế. Đây là những điểm nghẽn cần tháo gỡ để nâng cao hiệu quả đầu tư và vận hành hệ thống.

Mục tiêu năm 2030 đòi hỏi nguồn lực đầu tư lớn. Tính đến ngày 15/7/2026, tổng công suất đặt của hệ thống đạt khoảng 93,4 GW, theo Báo Công Thương dẫn báo cáo của Bộ Công Thương. Trong khi đó, Nghị quyết 70 đặt mục tiêu đến năm 2030, tổng công suất nguồn điện đạt khoảng 183-236 GW, có thể cao hơn tùy nhu cầu; tỷ lệ năng lượng tái tạo trong tổng cung năng lượng sơ cấp đạt khoảng 25-30%. Yêu cầu đặt ra là đẩy nhanh đầu tư nguồn điện, đồng thời phát triển lưới và hoàn thiện cơ chế huy động vốn.

Khoảng cách tới chỉ tiêu Nghị quyết 70.

Khoảng cách tới chỉ tiêu Nghị quyết 70.

Ba sức ép về dự trữ năng lượng, tiến độ dự án và sự phụ thuộc vào nhiệt điện than đặt ra yêu cầu phải hành động đồng bộ, từ bảo đảm nguồn cung trước mắt đến đầu tư hạ tầng và chuyển dịch năng lượng dài hạn. Những chỉ đạo của lãnh đạo Đảng, Chính phủ trong năm 2026 đã xác định rõ yêu cầu ấy, gắn nhiệm vụ bảo đảm đủ năng lượng với trách nhiệm thực hiện của từng bộ, ngành, địa phương.

Ngày 8/1/2026, tại Trụ sở Chính phủ, phát biểu chỉ đạo Hội nghị tổng kết công tác năm 2025, triển khai nhiệm vụ năm 2026 của Chính phủ và chính quyền địa phương, Tổng Bí thư Tô Lâm yêu cầu: “Bảo đảm an ninh năng lượng, nhất là năng lượng sạch, tuyệt đối không để thiếu điện; khẩn trương triển khai các dự án năng lượng quan trọng, trong đó có Nhà máy điện hạt nhân”.

Bảo đảm cung ứng năng lượng đầy đủ, liên tục và ổn định là nhiệm vụ then chốt, góp phần hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng.

Bảo đảm cung ứng năng lượng đầy đủ, liên tục và ổn định là nhiệm vụ then chốt, góp phần hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng.

Ngày 22/4/2026, tại Trụ sở Chính phủ, kết luận cuộc làm việc với Bộ Công Thương, Thủ tướng Lê Minh Hưng tiếp tục nhấn mạnh trách nhiệm bảo đảm an ninh năng lượng và chuyển dịch năng lượng công bằng. Thủ tướng giao Bộ và ngành Công Thương chịu trách nhiệm không để thiếu điện, xăng dầu trong mọi tình huống; đồng thời yêu cầu rà soát, cập nhật Quy hoạch điện VIII, đẩy nhanh các dự án điện và xây dựng kho dự trữ xăng dầu quốc gia.

Yêu cầu về tiến độ được cụ thể hóa tại cuộc họp Ban Chỉ đạo Nhà nước các chương trình, công trình, dự án quan trọng quốc gia, trọng điểm ngành năng lượng sáng 26/5/2026. Phó Thủ tướng Thường trực Phạm Gia Túc yêu cầu: “Không để các công trình, dự án trọng điểm ngành năng lượng tiếp tục chậm tiến độ”. Theo đó, từng dự án phải được rà soát, xác định rõ vướng mắc và trách nhiệm xử lý của các bộ, ngành, địa phương để đáp ứng nhu cầu điện cho tăng trưởng.

Cũng tại cuộc họp, Bộ trưởng Bộ Công Thương Lê Mạnh Hùng nhấn mạnh yêu cầu bảo đảm đủ điện phải đi cùng vận hành hệ thống an toàn, liên tục trong các tình huống cực đoan và duy trì mức giá phù hợp với khả năng chi trả của người dân, doanh nghiệp.

Đây cũng là yêu cầu xuyên suốt khi giải quyết ba sức ép: củng cố dự trữ, đưa dự án vào vận hành đúng tiến độ và từng bước chuyển dịch cơ cấu năng lượng, đồng thời giữ vững an toàn nguồn cung.

Những việc cần làm trong những năm tới

Nâng dự trữ lên chuẩn 90 ngày theo lộ trình

Dự trữ quốc gia tương đương khoảng 6 ngày nhập khẩu ròng cho thấy dư địa ứng phó với gián đoạn nguồn cung còn hạn chế. Để thực hiện mục tiêu dự trữ xăng dầu khoảng 90 ngày nhập khẩu ròng theo Nghị quyết 70, cần xây dựng lộ trình từng năm, xác định rõ lượng dự trữ, sức chứa kho, nguồn vốn và cơ quan chịu trách nhiệm.

Cần sớm có lộ trình nâng chuẩn dự trữ xăng, dầu lên 90 ngày. Ảnh minh họa

Cần sớm có lộ trình nâng chuẩn dự trữ xăng, dầu lên 90 ngày. Ảnh minh họa

Trong đó, cần tăng dần dự trữ quốc gia, nghiên cứu phát triển kho dự trữ dầu thô và bảo đảm doanh nghiệp đầu mối thực hiện đầy đủ nghĩa vụ dự trữ lưu thông. Năng lực dự trữ đủ mạnh sẽ tạo thêm dư địa điều hành, giảm nguy cơ đứt gãy nguồn cung và hạn chế tác động của biến động thị trường quốc tế.

Đa dạng hóa nguồn nhập khẩu, chủ động hợp đồng dài hạn

Khi nhu cầu nhập khẩu năng lượng ngày càng lớn, đa dạng hóa nguồn cung là yêu cầu thiết yếu để giảm rủi ro. Cần mở rộng thị trường nhập khẩu than, dầu và LNG; tăng tỷ trọng hợp đồng dài hạn với cơ chế giá phù hợp, kết hợp linh hoạt các nguồn mua. Đồng thời, đẩy nhanh chuỗi khí - điện Cá Voi Xanh, Lô B để khai thác hiệu quả nguồn khí trong nước, giảm phụ thuộc vào bên ngoài.

Tháo gỡ vướng mắc tại các dự án trọng điểm

Rà soát từng dự án tồn đọng, xác định rõ khả năng tiếp tục triển khai, thời hạn xử lý và trách nhiệm của các bên. Với dự án không còn khả năng thực hiện, xem xét chấm dứt hoạt động, lựa chọn nhà đầu tư thay thế theo quy định. Tập trung tháo gỡ vướng mắc về giải phóng mặt bằng, cơ chế giá điện LNG và thu xếp vốn; rút ngắn thời gian giải quyết thủ tục đầu tư, gắn với trách nhiệm thực thi.

Tập trung tháo gỡ vướng mắc, thúc đẩy các dự án nguồn và lưới hoàn thành đúng tiến độ

Tập trung tháo gỡ vướng mắc, thúc đẩy các dự án nguồn và lưới hoàn thành đúng tiến độ

Chuyển dần hỗ trợ qua giá sang hỗ trợ trực tiếp

Tiếp tục hoàn thiện pháp luật về điện lực, thực hiện lộ trình giảm và tiến tới xóa bỏ bù chéo giá điện. Đồng thời, hoàn thiện chính sách hỗ trợ tiền điện cho hộ nghèo, hộ chính sách; nghiên cứu hỗ trợ chi phí nhiên liệu cho các nhóm dễ bị tổn thương khi cần thiết, bằng nguồn lực hợp pháp. Giá năng lượng minh bạch giúp nhà đầu tư tính toán hiệu quả dài hạn; hỗ trợ đúng đối tượng góp phần bảo đảm an sinh xã hội.

Củng cố công cụ điều hành, ổn định giá

Rà soát, hoàn thiện cơ chế sử dụng Quỹ Bình ổn giá xăng dầu, công cụ thuế, phí và phương án hỗ trợ tài chính khi cần thiết; điều hành giá linh hoạt, phù hợp với diễn biến thị trường. Với điện, cần bảo đảm cơ chế điều chỉnh giá kịp thời, minh bạch; triển khai giá điện hai thành phần theo lộ trình phù hợp, kết hợp giá theo thời gian sử dụng và chương trình điều chỉnh phụ tải để khuyến khích khách hàng sử dụng điện hiệu quả, giảm áp lực vào giờ cao điểm.

Giữ mạch năng lượng cho hành trình phát triển.

Giữ mạch năng lượng cho hành trình phát triển.

Tiết kiệm năng lượng để giảm áp lực nguồn cung

Mỗi đơn vị năng lượng tiết kiệm được đều góp phần giảm nhu cầu đầu tư nguồn mới và áp lực nhập khẩu. Cần thực thi hiệu quả pháp luật về sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả; giao chỉ tiêu phù hợp cho các ngành công nghiệp tiêu thụ nhiều năng lượng, gắn với đổi mới công nghệ và trách nhiệm của doanh nghiệp. Đồng thời, thống nhất phương pháp đo lường cường độ năng lượng để theo dõi, đánh giá thực chất kết quả tiết kiệm.

Đầu tư đồng bộ lưới điện, lưu trữ và thị trường

Phát triển lưới truyền tải đồng bộ với nguồn điện, nhất là tại các khu vực có tiềm năng năng lượng tái tạo; hoàn thiện cơ chế giá cho hệ thống lưu trữ, mở rộng mua bán điện trực tiếp và phát triển thị trường điện cạnh tranh theo lộ trình. Đây là những điều kiện quan trọng để khai thác hiệu quả nguồn điện sạch, nâng khả năng tích hợp năng lượng tái tạo và góp phần thực hiện mục tiêu tỷ lệ năng lượng tái tạo đạt 25-30% tổng cung năng lượng sơ cấp vào năm 2030.

An ninh năng lượng năm 2026 là câu chuyện của một nền kinh tế vừa chạy nhanh vừa phải giữ thăng bằng. Việt Nam đã chứng minh đủ năng lực mở rộng hệ thống với tốc độ vượt mặt bằng thế giới. Chặng tới khó hơn: tăng dự trữ, giảm phụ thuộc, minh bạch giá mà không để người dân yếu thế chịu thiệt. Năng lượng đi trước một bước thì đất nước mới vững vàng bước tới mục tiêu trăm năm.

Lâm Vỹ Sơn

Các tin khác

Tin nổi bật