Nhận diện rủi ro từ sớm, không chờ ô nhiễm gia tăng
Ngày 15/10/2026, Bộ Chính trị ban hành Chỉ thị số 15-CT/TW về bảo đảm an ninh môi trường trong thời kỳ phát triển mới của đất nước. Chỉ thị xác định đây là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên, lâu dài của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội; đồng thời nhấn mạnh yêu cầu chủ động nhận diện, dự báo, phòng ngừa, kiểm soát và ứng phó hiệu quả với các nguy cơ, rủi ro môi trường.

Không khí tại Hà Nội thường ô nhiễm nhất vào mùa đông.
Đặt trong bối cảnh Hà Nội thường xuyên đối mặt với tình trạng ô nhiễm không khí vào những tháng cuối năm và đầu năm sau, yêu cầu này không chỉ mang ý nghĩa định hướng mà còn đặt ra bài toán cụ thể đối với công tác quản lý đô thị: Làm thế nào để phát hiện nguy cơ sớm hơn, kiểm soát nguồn phát thải hiệu quả hơn và hạn chế tác động đến sức khỏe người dân?
Thực tế những ngày giữa tháng 10 cho thấy chất lượng không khí tại Hà Nội có thể biến động đáng kể theo khu vực và thời điểm. Sáng 15/10, nhiều nơi chìm trong lớp bụi mờ, chỉ số chất lượng không khí có thời điểm ở ngưỡng đỏ. Chỉ sau đó 1 tuần, sáng 22/10, dù chỉ số chung của thành phố ở mức trung bình theo dữ liệu IQAir, nhiều điểm đo vẫn ở mức kém, thậm chí có nơi chạm ngưỡng xấu.
Sự phân hóa này cho thấy một chỉ số tổng hợp chưa đủ phản ánh đầy đủ nguy cơ tại từng khu vực. Đối với công tác quản lý, điều cần thiết là dữ liệu đủ chi tiết để nhận diện điểm nóng, xác định nguồn gây ô nhiễm và lựa chọn biện pháp can thiệp phù hợp. Với người dân, thông tin cũng cần được cập nhật kịp thời để chủ động điều chỉnh hoạt động ngoài trời, nhất là trong những thời điểm chất lượng không khí suy giảm.
Trao đổi với phóng viên Báo Công Thương, TS. Hoàng Dương Tùng, Chủ tịch Mạng lưới Không khí sạch Việt Nam, giai đoạn từ tháng 10 đến tháng 3 hoặc tháng 4 năm sau thường là thời kỳ ô nhiễm không khí gia tăng tại Hà Nội. Khi điều kiện khí tượng không thuận lợi cho sự khuếch tán chất ô nhiễm, bụi có thể tích tụ ở tầng thấp. Tuy nhiên, mức độ ô nhiễm không chỉ phụ thuộc vào thời tiết mà còn liên quan trực tiếp đến lượng phát thải từ giao thông, xây dựng và các hoạt động sản xuất, sinh hoạt.
Điều đó cho thấy không thể chỉ trông chờ vào những thay đổi thuận lợi của thời tiết để cải thiện chất lượng không khí. Nếu lượng phát thải không giảm, các đợt nghịch nhiệt hoặc điều kiện khí tượng bất lợi sẽ tiếp tục làm lộ rõ những hạn chế trong kiểm soát nguồn ô nhiễm.
Tại cuộc làm việc giữa Bộ Nông nghiệp và Môi trường với UBND TP. Hà Nội ngày 21/10, ông Nguyễn Minh Tấn, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường Hà Nội cho biết, thành phố đã phối hợp với các cơ quan chuyên môn đầu tư, nâng cấp hệ thống quan trắc, tích hợp dữ liệu và xây dựng mô hình dự báo. Tuy nhiên, dữ liệu quan trắc, khí tượng và nguồn phát thải giữa các cơ quan, địa phương chưa được kết nối đồng bộ; quy trình phối hợp, kích hoạt biện pháp ứng phó khi nguy cơ ô nhiễm liên vùng gia tăng cũng chưa hoàn thiện. Đây là khoảng trống cần được khắc phục nếu Hà Nội muốn chuyển từ ứng phó bị động sang quản trị rủi ro chủ động. Dự báo không nên chỉ trả lời câu hỏi khi nào không khí ô nhiễm, mà còn phải cung cấp cơ sở để xác định khu vực cần ưu tiên, nguồn thải cần kiểm soát và thời điểm triển khai biện pháp.
Kiểm soát nguồn thải, cụ thể hóa yêu cầu an ninh môi trường
Chỉ thị số 15-CT/TW nhấn mạnh yêu cầu đổi mới phương thức quản trị an ninh môi trường dựa trên khoa học, công nghệ, dữ liệu và phân tích rủi ro; phát triển hệ thống giám sát, dự báo, cảnh báo sớm và hoàn thiện cơ sở dữ liệu có khả năng kết nối, liên thông. Đây là cơ sở quan trọng để Hà Nội tiếp tục nâng cao năng lực dự báo chất lượng không khí, nhưng công nghệ chỉ phát huy hiệu quả khi gắn với cơ chế xử lý cụ thể.
Theo PGS.TS. Phạm Thị Thanh Ngà, Viện trưởng Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn, Môi trường và Biển, mô hình dự báo ô nhiễm không khí cho Hà Nội đang được thử nghiệm với thời hạn 7 ngày. Dù vậy, chất lượng dữ liệu đầu vào vẫn là một trong những điểm nghẽn. Số lượng trạm quan trắc tương đối chuẩn còn hạn chế; một số thiết bị cảm biến chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu về độ ổn định và các thông số đo. Kết quả mô hình cũng cần được chuyên gia đánh giá, hiệu chỉnh trước khi xây dựng bản tin dự báo chính thức.
Như vậy, nâng cao năng lực dự báo cần được triển khai đồng thời với mở rộng quan trắc, cải thiện dữ liệu về nguồn phát thải và tăng cường phối hợp giữa các đơn vị chuyên môn. Nếu dữ liệu đầu vào thiếu tin cậy hoặc không được chia sẻ kịp thời, cảnh báo có thể chưa phản ánh đúng mức độ rủi ro tại từng địa bàn.
Quan trọng hơn, dự báo phải đi cùng kịch bản ứng phó. Khi nguy cơ ô nhiễm tăng cao, cơ quan quản lý cần xác định rõ biện pháp nào được kích hoạt, đơn vị nào chịu trách nhiệm và kết quả được đánh giá ra sao. Tùy tình hình thực tế, các biện pháp có thể bao gồm tăng cường vệ sinh tại điểm nóng bụi, kiểm soát hoạt động xây dựng và vận chuyển vật liệu, điều tiết giao thông hoặc xem xét những giải pháp hạn chế phát thải phù hợp.
Ở khâu kiểm soát nguồn thải, Hà Nội đã có những yêu cầu cụ thể. Kế hoạch số 400/KH-UBND ngày 15/10/2026 đặt mục tiêu 100% công trình lớn thực hiện giám sát bụi bằng cảm biến, camera, AI hoặc giải pháp công nghệ phù hợp. Thành phố đồng thời yêu cầu kiểm soát phương tiện vận chuyển vật liệu, làm sạch các tuyến đường trọng điểm và ngăn chặn tình trạng đốt rác, phụ phẩm nông nghiệp không đúng quy định.
Tuy nhiên, hiệu quả không thể chỉ đo bằng số lượng thiết bị được lắp đặt hay số lượt kiểm tra. Điều cần quan tâm là vi phạm có được phát hiện và xử lý kịp thời hay không, bụi phát sinh có được kiểm soát tại nguồn hay không, tình trạng tái diễn có giảm hay không. Giám sát bằng công nghệ phải đi cùng chế tài, trách nhiệm của chủ đầu tư, nhà thầu và cơ quan quản lý.
Với giao thông, bài toán cần được giải quyết theo hướng dài hạn hơn. Kiểm soát khí thải phương tiện, xử lý những phương tiện không đáp ứng yêu cầu và phát triển giao thông công cộng cần được triển khai đồng bộ. Nếu vẫn phụ thuộc lớn vào phương tiện cá nhân, trong khi lượng phát thải từ giao thông chưa được kiểm soát hiệu quả, những biện pháp xử lý bụi tại từng thời điểm khó tạo ra chuyển biến bền vững.
Một yêu cầu khác là phối hợp liên vùng. Ô nhiễm không khí có thể chịu tác động của các nguồn phát thải nằm ngoài địa giới Hà Nội, vì vậy thành phố cần có cơ chế chia sẻ dữ liệu và phối hợp ứng phó với các địa phương lân cận. Việc Bộ Nông nghiệp và Môi trường xây dựng dự thảo quy chế phối hợp quản lý chất lượng môi trường không khí liên tỉnh đối với 8 tỉnh, thành phố miền Bắc cho thấy vấn đề này đã được đặt ra ở phạm vi rộng hơn.
Tinh thần của Chỉ thị số 15-CT/TW là chủ động phòng ngừa, kiểm soát rủi ro thay vì chỉ xử lý hậu quả. Với Hà Nội, điều đó đòi hỏi sự chuyển biến đồng bộ từ năng lực dự báo, chất lượng dữ liệu đến kiểm soát nguồn phát thải và trách nhiệm thực thi. Mỗi cảnh báo cần được chuyển thành phương án hành động có địa chỉ, thời hạn và tiêu chí đánh giá rõ ràng.
Bảo đảm an ninh môi trường không chỉ là nhiệm vụ của riêng ngành môi trường, mà cần sự phối hợp của chính quyền, các ngành, doanh nghiệp và cộng đồng. Khi kiểm soát được nguồn thải, chủ động trước các đợt ô nhiễm và xử lý dứt điểm những bất cập kéo dài, Hà Nội mới có thể từng bước cải thiện chất lượng không khí, bảo vệ sức khỏe người dân và hiện thực hóa yêu cầu phát triển bền vững.
Ô nhiễm không khí đã được cảnh báo trong nhiều năm, vì vậy yêu cầu hiện nay không chỉ là có thêm dữ liệu hay những mô hình dự báo hiện đại hơn. Thách thức lớn hơn là biến dữ liệu thành quyết định quản lý, biến quyết định thành hành động và đo lường được mức độ giảm phát thải sau mỗi đợt triển khai. Dự báo phải đi trước một bước, nhưng kiểm soát nguồn thải phải được thực hiện liên tục. Chỉ khi hai nhiệm vụ này gắn chặt với trách nhiệm của từng cơ quan, địa phương và chủ nguồn thải, Hà Nội mới có cơ sở cải thiện chất lượng không khí một cách thực chất, thay vì chỉ ứng phó mỗi khi bầu trời chuyển màu cảnh báo.


