Tiêu điểm

Gạo thơm Việt Nam tiếp tục mở rộng hiện diện tại thị trường EU


Các lô gạo thơm tiếp tục được cấp chứng nhận xuất khẩu sang EU cho thấy gạo Việt khẳng định chất lượng, mở rộng hiện diện tại thị trường khó tính và vươn ra toàn cầu.

Chất lượng gạo Việt chinh phục thị trường khó tính

Theo công bố mới nhất của Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật (Bộ Nông nghiệp và Môi trường), cơ quan này vừa cấp giấy chứng nhận chủng loại gạo thơm xuất khẩu sang Liên minh châu Âu (EU) cho 4 lô gạo của hai doanh nghiệp, với tổng khối lượng hơn 380 tấn.

Việc có thêm 4 lô gạo được chứng nhận khẳng định, sản phẩm gạo của Việt Nam đang ngày càng chiếm vị thế tại thị trường EU. Ảnh minh họa

Việc có thêm 4 lô gạo được chứng nhận khẳng định, sản phẩm gạo của Việt Nam đang ngày càng chiếm vị thế tại thị trường EU. Ảnh minh họa 

Cụ thể, Công ty TNHH Xuất nhập khẩu Đại Dương Xanh (TP. Hồ Chí Minh) được cấp chứng nhận cho ba lô gạo thơm OM5451 (loại 5% tấm) với tổng khối lượng 364,52 tấn. Các lô hàng được canh tác tại vùng trồng của tỉnh An Giang. Trong đó, 294 tấn sẽ được xuất sang Cộng hòa Séc, 20,52 tấn sang Đức và 50 tấn sang Pháp.

Doanh nghiệp thứ hai là Công ty cổ phần Hoàng Minh Nhật (TP. Cần Thơ) được cấp chứng nhận cho một lô gạo Jasmine 85 (loại 5% tấm) với khối lượng 23,95 tấn xuất khẩu sang Ba Lan. Nguồn gốc giống lúa được xác định từ vùng trồng tại Bạc Liêu (nay thuộc tỉnh Cà Mau).

Theo quy định của EU, các lô gạo thơm nhập khẩu vào thị trường này phải có giấy chứng nhận xác thực chủng loại nhằm đảm bảo giống gạo nằm trong danh mục được công nhận bởi Ủy ban châu Âu. Đây cũng là điều kiện để gạo thơm Việt Nam được hưởng ưu đãi thuế quan theo Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam – EU (EVFTA).

Bên cạnh đó, theo Nghị định 103/2020/NĐ-CP của Chính phủ về chứng nhận gạo thơm xuất khẩu sang EU, doanh nghiệp phải đáp ứng các yêu cầu về nguồn giống, vùng trồng và địa điểm sản xuất, đồng thời có biên bản kiểm tra, đánh giá chất lượng từng lô hàng tại từng thời điểm kiểm tra.

Hiện Việt Nam có 9 giống gạo thơm được phép xuất khẩu sang EU, gồm Jasmine 85, ST5, ST20, Nàng Hoa 9, VĐ20, RVT, OM4900, OM5451 và gạo Tài nguyên Chợ Đào. Dù khối lượng mỗi lô hàng chưa lớn, nhưng việc duy trì đều đặn các lô gạo thơm vào EU cho thấy nhu cầu của thị trường này đối với gạo chất lượng cao của Việt Nam vẫn ổn định. Quan trọng hơn, điều đó phản ánh quá trình chuyển dịch của ngành lúa gạo Việt Nam từ cạnh tranh về số lượng sang cạnh tranh bằng chất lượng.

Theo cam kết từ EVFTA, EU dành cho Việt Nam hạn ngạch 80.000 tấn gạo mỗi năm, gồm 30.000 tấn gạo xay xát, 20.000 tấn gạo chưa xay xát và 30.000 tấn gạo thơm. Đáng chú ý, EU đã tự do hóa hoàn toàn đối với gạo tấm, trong khi các sản phẩm từ gạo cũng được đưa thuế suất về 0% theo lộ trình. Những ưu đãi này mở ra cơ hội lớn cho gạo Việt Nam cạnh tranh với các nước xuất khẩu lớn trên thị trường EU.

Từ thị trường EU mở rộng cơ hội cho gạo Việt

Sự hiện diện ngày càng rõ nét của gạo Việt tại châu Âu cũng phản ánh chiến lược chuyển dịch cơ cấu thị trường của ngành lúa gạo trong những năm gần đây. Nếu trước đây xuất khẩu gạo của Việt Nam chủ yếu tập trung vào các thị trường truyền thống như Philippines, Trung Quốc hay châu Phi, thì hiện nay cơ cấu thị trường đang dần đa dạng hơn. Nhiều doanh nghiệp đã chủ động khai thác các thị trường có giá trị cao như châu Âu, nhờ tận dụng các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới như Hiệp  định EVFTA, UKVFTA hay CPTPP.

Theo các chuyên gia, dù khối lượng xuất khẩu gạo sang thị trường EU chưa lớn, nhưng đây lại là thị trường có giá trị gia tăng cao và có tính “chuẩn mực”. Một khi sản phẩm đã đáp ứng được các tiêu chuẩn khắt khe của EU, khả năng thâm nhập vào nhiều thị trường phát triển khác cũng trở nên thuận lợi hơn.

Trao đổi với phóng viên, ông Nguyễn Văn Thành, Giám đốc Công ty TNHH sản xuất -thương mại Phước Thành IV (Vĩnh Long), cho rằng việc chuyển dịch sang phân khúc gạo chất lượng cao là xu hướng tất yếu của ngành lúa gạo Việt Nam.

Theo ông Thành, Việt Nam khó có thể cạnh tranh với Ấn Độ ở phân khúc gạo giá thấp. Do đó, hướng đi phù hợp là tập trung vào phân khúc trung và cao cấp, nơi Việt Nam có thể cạnh tranh với Thái Lan hoặc Campuchia.

Hiện bộ giống lúa của Việt Nam khá đa dạng. Một số giống phổ biến như OM5451 hay Đài Thơm 8 chiếm tỷ lệ lớn trong cơ cấu sản lượng, lên tới 60 - 70%. Những giống này được nhiều thị trường ưa chuộng nhờ chất lượng ổn định, khả năng giao hàng nhanh và linh hoạt trong chế biến.

Ở phân khúc cao cấp, giống gạo ST25 đã trở thành một điểm sáng của gạo Việt Nam. Không chỉ tạo được uy tín trên thị trường quốc tế, ST25 còn được người tiêu dùng trong nước đón nhận mạnh mẽ, thay thế nhiều dòng gạo nhập khẩu cao cấp trước đây. Bên cạnh việc nâng cao chất lượng giống và sản phẩm, ngành nông nghiệp cũng đang thúc đẩy các mô hình sản xuất lúa theo hướng bền vững và giảm phát thải.

Trao đổi với phóng viên Báo Công Thương, ông Nguyễn Quốc Mạnh, Phó Cục trưởng Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật (Bộ Nông nghiệp và Môi trường), cho biết trong bối cảnh hiện nay, sản xuất lúa gạo theo hướng giảm phát thải, bảo vệ môi trường sinh thái đang trở thành xu hướng tất yếu. Bởi ngoài yêu cầu về an toàn thực phẩm, nhiều thị trường nhập khẩu còn đặt ra các tiêu chuẩn ngày càng khắt khe liên quan đến môi trường, phát triển bền vững, bình đẳng giới và truy xuất nguồn gốc.

Theo ông Mạnh, các nhà nhập khẩu ngày càng quan tâm tới việc chứng minh sản phẩm được sản xuất theo quy trình thân thiện với môi trường, hạn chế phát thải khí nhà kính và không gây ô nhiễm sinh thái. Đáng chú ý, Liên minh châu Âu đã ban hành quy định yêu cầu các sản phẩm như cà phê, cao su, gỗ khi xuất khẩu vào thị trường này không được liên quan đến tình trạng mất rừng hoặc suy thoái rừng.

Trong bối cảnh đó, việc thúc đẩy sản xuất lúa giảm phát thải gắn với truy xuất nguồn gốc minh bạch sẽ góp phần khẳng định nông sản Việt Nam không chỉ bảo đảm chất lượng mà còn đáp ứng các tiêu chí phát triển bền vững. Khi các sản phẩm được xác nhận giảm phát thải và thân thiện với môi trường, giá trị của hạt lúa, hạt gạo cũng sẽ được nâng cao.

Thực tế cho thấy, nhiều thị trường lớn như EU, Mỹ, Nhật Bản và Hàn Quốc đang áp dụng các tiêu chuẩn ngày càng nghiêm ngặt về môi trường, chuỗi cung ứng và phát triển bền vững. Vì vậy, việc xây dựng chuỗi sản xuất lúa gạo minh bạch, thân thiện với môi trường sẽ giúp gạo Việt Nam đáp ứng tốt hơn yêu cầu của thị trường quốc tế.

Ở góc độ dài hạn, việc duy trì và mở rộng sự hiện diện tại thị trường EU không chỉ giúp gia tăng kim ngạch xuất khẩu mà còn đóng vai trò như “tấm giấy thông hành” để gạo Việt Nam bước vào các thị trường cao cấp khác trên thế giới. Khi chất lượng được chứng minh bằng thực tế thị trường và các tiêu chuẩn quốc tế, thương hiệu gạo Việt Nam sẽ ngày càng được củng cố, qua đó mở ra dư địa tăng trưởng mới cho ngành lúa gạo trong những năm tới.

Việc thêm nhiều lô gạo thơm được cấp chứng nhận chủng loại để xuất khẩu sang Liên minh châu Âu (EU) cho thấy nhu cầu ổn định của thị trường đối với gạo chất lượng cao của Việt Nam. Cùng với việc tận dụng hiệu quả Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam – EU (EVFTA) và thúc đẩy sản xuất lúa giảm phát thải, hạt gạo Việt đang từng bước nâng cao giá trị và vị thế tại các thị trường khó tính.

Tác giả: Nguyễn Hạnh