Gỡ "nút thắt" tín dụng
Năm 2025 được xem là năm bản lề của ngành công nghiệp hỗ trợ Việt Nam. Đây cũng là năm kết thúc giai đoạn 10 năm thực hiện Chương trình phát triển công nghiệp hỗ trợ theo Quyết định 68/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Chương trình phát triển công nghiệp hỗ trợ từ năm 2016 đến năm 2025. Trong bối cảnh kinh tế toàn cầu vẫn còn nhiều bất định, chuỗi cung ứng tiếp tục tái cấu trúc mạnh mẽ, Chính phủ đã liên tiếp ban hành nhiều chính sách quan trọng nhằm tạo xung lực mới cho khu vực doanh nghiệp sản xuất trong nước.
Đáng chú ý gần đây là Nghị định 205/2025/NĐ-CP của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 111/2015/NĐ-CP của Chính phủ về phát triển công nghiệp hỗ trợ, qua đó mở rộng đáng kể phạm vi hỗ trợ cho doanh nghiệp trong ngành, từ đào tạo nhân lực, hỗ trợ kiểm định, kiểm thử, xúc tiến thị trường đến đổi mới công nghệ.

Bước sang 2026, công nghiệp hỗ trợ kỳ vọng lực đẩy từ vốn và hạ tầng. Ảnh: Thanh Tuấn
Cùng với đó, Nghị quyết 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia đã xác định rõ đây là động lực then chốt của tăng trưởng. Nghị quyết 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân tiếp tục khẳng định vai trò trung tâm, quan trọng của khu vực doanh nghiệp tư nhân trong tăng trưởng dài hạn của nền kinh tế Việt Nam.
Tuy nhiên, từ chính sách đến thực tiễn vẫn còn một khoảng trống không nhỏ. Nhiều doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ tại Hà Nội nói riêng và trên cả nước nói chung đang phải đối mặt với hàng loạt bài toán cụ thể như thiếu vốn để mở rộng sản xuất, thiếu quỹ đất và mặt bằng công nghiệp phù hợp, đặc biệt là áp lực ngày càng gia tăng về tiêu chuẩn kỹ thuật khi tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng của các doanh nghiệp FDI và thị trường quốc tế.
Chia sẻ tại tọa đàm “Doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ Việt Nam: Nhìn lại 2025 và thách thức 2026” diễn ra mới đây, ông Nguyễn Quang Thắng, Tổng giám đốc Công ty Cổ phần Công nghiệp Bảo Minh Châu cho rằng, "nút thắt" lớn nhất hiện nay đối với doanh nghiệp là vấn đề tín dụng trung và dài hạn. Thực tế cho thấy, việc tiếp cận nguồn vốn vẫn phụ thuộc nhiều vào tài sản bảo đảm. Điều này gây hạn chế rất lớn, bởi nhiều khi quy mô tài sản của doanh nghiệp nhỏ hơn rất nhiều so với quy mô dự án mà doanh nghiệp muốn triển khai.
“Do đó, doanh nghiệp kỳ vọng trong thời gian tới sẽ có các gói tín dụng dài hạn phù hợp với chu kỳ đầu tư. Bên cạnh đó, cần có cơ chế mở rộng phương án bảo đảm vốn vay, không chỉ dựa riêng vào tài sản thế chấp, mà có thể đánh giá dựa trên hiệu quả dự án, dòng tiền tương lai hoặc sự tham gia của các quỹ đầu tư”, ông Thắng cho hay.
Cũng theo Thắng, muốn làm được điều này, cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa ngân hàng, quỹ đầu tư, doanh nghiệp và cơ quan quản lý để xây dựng cơ chế cung ứng vốn phù hợp, từ đó tạo điều kiện cho doanh nghiệp đầu tư mạnh vào công nghệ, tạo ra các sản phẩm có giá trị gia tăng cao.
Hiện nay, doanh nghiệp có thể tiếp cận hai kênh chính: Thông qua Ngân hàng Phát triển Việt Nam và các ngân hàng thương mại. Ngoài ra, còn có các quỹ đầu tư, quỹ đổi mới sáng tạo và quỹ phát triển khoa học, công nghệ.

Ông Nguyễn Quang Thắng, Tổng giám đốc Công ty Cổ phần Công nghiệp Bảo Minh Châu. Ảnh: Lê Dũng
Tuy nhiên, với doanh nghiệp sản xuất thiết bị điện công nghiệp, việc nâng cao tiêu chuẩn kỹ thuật để tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng của các doanh nghiệp FDI đang tạo áp lực rất lớn về chi phí đầu tư cũng như năng lực tài chính. Các tiêu chuẩn ngày càng khắt khe, đòi hỏi doanh nghiệp phải đầu tư vào công nghệ, hệ thống quản lý chất lượng, tự động hóa và chuyển đổi số. Đây là quá trình cần nguồn vốn lớn và thời gian hoàn vốn dài.
“Với kế hoạch phát triển hiện nay, để đáp ứng nhu cầu vốn cho các dự án mới, Công ty Bảo Minh Châu đang chủ động tìm kiếm và tiếp cận các quỹ đầu tư nhằm bổ sung nguồn lực tài chính, đồng hành trong quá trình nâng cấp công nghệ và mở rộng quy mô sản xuất”, ông Thắng bày tỏ.
Chờ cú hích chính sách
Chia sẻ thêm về kỳ vọng vào năm 2026, ông Thắng mong muốn Nhà nước sẽ tiếp tục hoàn thiện và xây dựng các chính sách đồng bộ hơn về đất đai, hạ tầng sản xuất cho doanh nghiệp. Bên cạnh đó, cần có chính sách về vốn theo hướng mở rộng các phương án tiếp cận để doanh nghiệp có thể tiếp cận được nguồn vốn với quy mô lớn hơn, phù hợp với nhu cầu đầu tư phát triển trong giai đoạn mới.
Trong khi đó, ở góc độ hiệp hội và doanh nghiệp, ông Nguyễn Vân, Phó Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ Hà Nội (HANSIBA) đã có những đánh giá về khoảng cách hiện nay giữa chính sách và thực tiễn triển khai.
“Thông qua hoạt động sản xuất, kinh doanh và đầu tư trực tiếp của các doanh nghiệp; cũng như khi tham gia các chương trình đồng hành, liên kết, chúng tôi đã lắng nghe trực tiếp những phản ánh từ lãnh đạo các doanh nghiệp hội viên. Từ thực tiễn đó, chúng tôi nhận thấy khoảng cách lớn giữa chính sách và thực tiễn hiện nay chủ yếu nằm ở quá trình chuyển giao từ khuôn khổ chính sách vĩ mô sang hành động vi mô, cụ thể tại doanh nghiệp. Đây là điểm còn tồn tại trong những năm vừa qua”, ông Vân nhận định.
Nói cách khác, chủ trương, định hướng lớn, Đảng và Nhà nước đã xác định rất rõ đối với đội ngũ doanh nghiệp trong nước nói chung, cũng như các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực sản xuất công nghiệp và công nghiệp hỗ trợ nói riêng. Tuy nhiên, khi đi vào triển khai thực tế, việc cụ thể hóa chính sách tại từng doanh nghiệp vẫn còn những vướng mắc.
Đại diện HANSIBA cho rằng, vấn đề không chỉ nằm ở phía doanh nghiệp, mà còn liên quan đến khâu thực thi của các cơ quan lập pháp và hành pháp. “Vì vậy, chúng tôi mong trong quá trình xây dựng và hoàn thiện cơ chế, chính sách, các cơ quan nhà nước, các cấp chính quyền và các bộ, ngành quản lý sẽ tiếp tục quan tâm sát sao hơn tới thực tiễn của doanh nghiệp, xem họ đang khó ở đâu, vướng ở đâu. Thông qua các tổ chức hội, hiệp hội, trong đó có HANSIBA, tiếng nói của doanh nghiệp sẽ được phản ánh đầy đủ và kịp thời hơn tới cơ quan quản lý”, ông Vân nói.
Không gian chính sách dành cho công nghiệp hỗ trợ đang ngày càng thông thoáng, với nhiều cơ chế ưu đãi và đột phá quan trọng. Vấn đề còn lại là tiếp tục đồng hành, kết nối và cụ thể hóa chính sách sát hơn với thực tiễn doanh nghiệp. Khi chủ trương được triển khai hiệu quả, khu vực sản xuất trong nước sẽ có thêm động lực để bứt phá và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu.

