• :
  • :
A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Kinh tế nhà nước: Không dựa vào bao cấp, độc quyền

Kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo bằng năng lực dẫn dắt, góp phần bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế; không dựa vào bao cấp, độc quyền...

Khẳng định vai trò chủ đạo

Theo Thông báo kết luận của đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, Trưởng Ban Chỉ đạo Trung ương về hoàn thiện thể chế và thực thi pháp luật tại Phiên họp thứ nhất: Kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, nhưng không phải bằng khẩu hiệu, không dựa vào bao cấp, độc quyền, ưu đãi hành chính hoặc cơ chế xin - cho. Vai trò chủ đạo phải được thể hiện bằng năng lực dẫn dắt, điều tiết, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm các cân đối lớn, chi phối lĩnh vực then chốt, thiết yếu, chiến lược; đồng thời, tuân thủ kỷ luật thị trường, tài chính, quản trị và trách nhiệm giải trình”.

Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết số 79 - NQTW về phát triển kinh tế Nhà nước và Nghị quyết số 80-NQTW về phát triển văn hóa Việt Nam. Ảnh: VGP

Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết số 79 - NQTW về phát triển kinh tế Nhà nước và Nghị quyết số 80-NQTW về phát triển văn hóa Việt Nam. Ảnh: VGP

Kết luận của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đặt ra yêu cầu rất rõ đối với phát triển kinh tế nhà nước trong giai đoạn mới: giữ vai trò chủ đạo, nhưng vai trò ấy không được hiểu như một đặc quyền mặc định.

Kinh tế nhà nước cũng không thu hẹp trong phạm vi doanh nghiệp nhà nước, càng không thể được nhìn nhận đơn giản qua số lượng doanh nghiệp, quy mô vốn hoặc tỷ lệ tài sản do nhà nước nắm giữ. Kinh tế nhà nước là tổng thể các nguồn lực vật chất, tài chính, hạ tầng, công cụ điều tiết và các chủ thể kinh tế do nhà nước quản lý, chi phối để phục vụ mục tiêu phát triển đất nước, ổn định vĩ mô, bảo đảm an ninh kinh tế, quốc phòng, an ninh và các cân đối lớn của nền kinh tế.

Trước đó, Nghị quyết 79-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế nhà nước đặt mục tiêu đến năm 2045, kinh tế nhà nước trở thành nền tảng vững chắc bảo đảm tự chủ chiến lược, tự cường và sức cạnh tranh toàn diện của nền kinh tế; có phương thức quản lý hiện đại, minh bạch, hiệu quả, năng lực cạnh tranh cao và hội nhập sâu vào kinh tế toàn cầu; cùng các khu vực khác hiện thực hóa mục tiêu đưa Việt Nam trở thành nước phát triển, thu nhập cao.

Mục tiêu trên đặt kinh tế nhà nước ở vị trí trung tâm trong bảo đảm nền tảng phát triển quốc gia. Muốn giữ được vị trí ấy, tư duy điều hành phải thay đổi mạnh mẽ. Nhà nước không thể chỉ dừng ở việc nắm giữ tài sản, vốn hay hạ tầng, mà phải nâng chuẩn quản lý, tập trung đầu tư vào đúng lĩnh vực, đúng doanh nghiệp, đúng nhiệm vụ chiến lược. Những ngành then chốt, thiết yếu, có khả năng dẫn dắt và tạo tác động rộng cần được ưu tiên; các hoạt động dàn trải, kém hiệu quả phải được sắp xếp lại.

Thấy gì từ các doanh nghiệp nhà nước?

Quá trình cơ cấu lại doanh nghiệp nhà nước những năm qua đã có bước chuyển tích cực và mạnh mẽ. Từ khoảng 12.000 doanh nghiệp trước đây, hiện chỉ còn gần 500 đơn vị do Nhà nước nắm giữ 100% vốn và khoảng 800 đơn vị có vốn chi phối. Phần lớn doanh nghiệp tập trung trong những lĩnh vực trọng yếu như năng lượng, hạ tầng, tài chính, viễn thông và các ngành liên quan trực tiếp đến an ninh kinh tế quốc gia.

Trong các lĩnh vực thiết yếu, dấu ấn của khu vực này khá rõ. Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN), Tập đoàn Công nghiệp – Năng lượng quốc gia Việt Nam (Petrovietnam), Tập đoàn Xăng dầu Việt Nam (Petrolimex) góp phần quan trọng trong bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia. Tập đoàn Công nghiệp – Viễn thông Quân đội (Viettel), Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam (VNPT)…, giữ vị trí quan trọng trong viễn thông, công nghệ và công nghiệp quốc phòng. Vietnam Airlines, Tổng công ty Đường sắt Việt Nam, Tổng công ty Cảng hàng không Việt Nam, Tổng công ty Tân Cảng Sài Gòn tham gia phát triển hạ tầng giao thông, vận tải, logistics.

Khi đại dịch cũng như các đợt thiên tai, lũ lụt, nhiều doanh nghiệp nhà nước cũng thể hiện vai trò “trụ đỡ” thông qua cung cấp nền tảng số miễn phí, giảm giá dịch vụ viễn thông, vận chuyển vật tư, thiết bị vào vùng dịch, giảm giá điện, hỗ trợ trang thiết bị y tế và bảo quản vắc-xin. Những thời điểm bất thường cho thấy, nhà nước cần công cụ đủ mạnh để can thiệp khi thị trường gặp cú sốc lớn, lúc này doanh nghiệp nhà nước giữ vai trò hết sức quan trọng. Gần đây, khi thị trường xăng dầu biến động mạnh do xung đột Trung Đông, Petrovietnam, Petrolimex… nổi lên như một điển hình tiêu biểu của doanh nghiệp nhà nước trong lĩnh vực năng lượng. Bên cạnh nhiệm vụ kinh doanh, các doanh nghiệp này đảm nhận vai trò “giữ nhịp” thị trường xăng dầu - đầu vào thiết yếu của nền kinh tế. Khi thị trường thế giới biến động mạnh, nguồn cung gián đoạn hoặc chi phí nhập khẩu gia tăng, vẫn chủ động điều hành nguồn hàng, duy trì hệ thống phân phối rộng khắp, bảo đảm không xảy ra đứt gãy nguồn cung trong nước.

Tổng kho Xăng dầu Nhà Bè. Ảnh: Petrolimex Sài Gòn

Tổng kho Xăng dầu Nhà Bè. Ảnh: Petrolimex Sài Gòn

Bên cạnh những tập đoàn, tổng công ty có đóng góp lớn, vẫn còn điểm nghẽn kéo dài về hiệu quả, liên kết, trách nhiệm và phương thức điều hành. Nhiều đơn vị hoạt động khép kín, sức lan tỏa sang khu vực tư nhân chưa rõ. Một số đơn vị khó khăn trong sản xuất, kinh doanh, mất an toàn tài chính; cổ phần hóa, thoái vốn chậm; mô hình quản lý chưa tiệm cận thông lệ quốc tế; nhân lực chất lượng cao chưa được thu hút và sử dụng đúng mức.

Đột phá trong quản trị theo chuẩn mực hiện đại

Nghị quyết 79-NQ/TW đặt ra những mục tiêu cụ thể đối với các doanh nghiệp. Theo đó, đến năm 2030, phấn đấu có 50 doanh nghiệp nhà nước vào nhóm 500 doanh nghiệp lớn nhất Đông Nam Á và từ 1 - 3 doanh nghiệp vào nhóm 500 doanh nghiệp lớn nhất thế giới. Đến năm 2045, con số tương ứng là khoảng 60 doanh nghiệp trong nhóm 500 của Đông Nam Á, 5 doanh nghiệp trong nhóm 500 toàn cầu; mức dự trữ quốc gia đạt 2% GDP; tối thiểu 50% đơn vị sự nghiệp công lập tự bảo đảm chi thường xuyên, chi đầu tư hoặc tự bảo đảm chi thường xuyên, hoạt động hiệu quả theo cơ chế thị trường.

Những mục tiêu này đòi hỏi cách làm khác trước. Muốn hình thành doanh nghiệp đủ tầm khu vực và thế giới, không thể duy trì tư duy dàn trải, bình quân, giữ nhiều đầu mối nhưng thiếu lực. Cần chuyển sang mô hình “ít nhưng tinh”, dồn nguồn lực cho những đơn vị có khả năng làm chủ công nghệ, dẫn dắt ngành, kết nối các thành phần kinh tế khác và cạnh tranh ở thị trường khu vực, toàn cầu.

Việc phân tầng doanh nghiệp nhà nước vì thế cần được làm rõ. Đơn vị giữ vai trò trụ cột chiến lược phải được tập trung vốn, cơ chế và trách nhiệm tương xứng. Doanh nghiệp hạ tầng, an ninh kinh tế cần được tổ chức lại để tối ưu đầu tư dài hạn. Những nơi thực hiện nhiệm vụ công ích, chính trị - xã hội phải có cơ chế đặt hàng minh bạch, tách bạch với kinh doanh thuần túy.

Hoạt động đầu tư vốn nhà nước cũng phải chuyên nghiệp hơn. Việc nghiên cứu mô hình nhà đầu tư quốc gia, nâng cấp vai trò của Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn nhà nước (SCIC), hướng tới quỹ đầu tư quốc gia, tập trung vào đổi mới sáng tạo, công nghệ, chuyển đổi số và đầu tư dài hạn là hướng đi cần thiết. Nhà nước không chỉ giữ vốn, mà phải biết phân bổ, cấu trúc danh mục, dẫn dắt mua bán - sáp nhập, hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận công nghệ lõi, thị trường mới và năng lực điều hành quốc tế.

Kết luận của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, Trưởng Ban Chỉ đạo Trung ương về hoàn thiện thể chế và thực thi pháp luật tại Phiên họp thứ nhất của Ban Chỉ đạo cũng nêu rõ: “Doanh nghiệp nhà nước cần đột phá trong quản trị theo chuẩn mực hiện đại, minh bạch, cạnh tranh và có cơ chế đánh giá rõ ràng; đi đầu trong đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, phát triển lĩnh vực then chốt, thiết yếu, có tính lan toả. Kiên quyết không để tồn tại lợi ích nhóm, sân sau, đầu tư theo nhiệm kỳ, thua lỗ kéo dài mà không rõ chủ thể chịu trách nhiệm”. Bên cạnh đó, Ban Chỉ đạo giao Đảng uỷ Chính phủ chỉ đạo Đảng uỷ Bộ Tài chính và các cơ quan liên quan rà soát tổng thể hệ thống pháp luật liên quan đến kinh tế nhà nước theo hướng xác định rõ danh mục các văn bản phải sửa đổi, bổ sung, thay thế, bãi bỏ hoặc ban hành mới và lộ trình thực hiện; đề xuất các cơ chế, chính sách đặc thù về phát triển doanh nghiệp nhà nước.

Trong mối liên kết chung với khu vực kinh tế khác, Ban Chỉ đạo Trung ương về hoàn thiện thể chế và thực thi pháp luật thống nhất quan điểm, chuyển mạnh thu hút FDI theo hướng chọn lọc, ưu tiên dự án có công nghệ hiện đại, tạo giá trị gia tăng cao, tăng liên kết với doanh nghiệp trong nước, thúc đẩy chuyển đổi xanh, chuyển đổi số, đào tạo nhân lực và nâng cao năng lực tự chủ của nền kinh tế. Ưu đãi đầu tư phải gắn với cam kết cụ thể về chuyển giao công nghệ, nghiên cứu và phát triển, đào tạo lao động Việt Nam, nâng tỷ lệ giá trị gia tăng trong nước, phát triển nhà cung ứng nội địa, bảo vệ môi trường và tuân thủ pháp luật.

Liên kết này giúp làm rõ thêm quan điểm: kinh tế nhà nước giữ vị trí chủ đạo không đồng nghĩa với khép kín mà phải có sự liên kết với các khu vực khác. Vai trò dẫn dắt chỉ có ý nghĩa khi đặt trong môi trường cạnh tranh bình đẳng, nơi vốn nhà nước, vốn tư nhân và vốn FDI cùng minh bạch và đóng góp thực chất cho năng lực tự chủ quốc gia. Do đó, không thể ưu đãi dàn trải, chạy theo số lượng dự án hoặc quy mô vốn đăng ký; càng không thể đánh đổi môi trường, an ninh kinh tế, an ninh dữ liệu, quốc phòng, an ninh và lợi ích dài hạn để lấy những dự án ngắn hạn, ít sức lan tỏa.

Nghị quyết 79-NQ/TW: Kinh tế nhà nước phải tiên phong kiến tạo phát triển, dẫn dắt, mở đường, thúc đẩy công nghiệp hoá, hiện đại hoá, cơ cấu lại nền kinh tế và xác lập mô hình tăng trưởng mới, lấy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực chính, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.

Hà Trang
Thích

Các tin khác

Tin nổi bật